10. Sớ Tụng Kinh Thủy Sám I
(Sám Viên Minh)
Nguyên văn:
伏以
懺圓明總事理而嚴辭、折接乘微妙、照因果以報驗筮龜。拜表爲越南國...省...郡...社...家居建壇奉
佛修香諷經...事。今弟子...等、維日拜干、仰賴
佛恩、俯垂接度。痛念
奉爲...之香靈。仝承
佛法以超昇、全賴經文而解脫。茲者...諷經慈悲三昧水懺法。茲當第...巻巳完隆、謹具表文、恭詣臺前、和南拜白。
南無道塲敎主本師釋迦牟尼佛蓮座證明。
南無上中下分三界天曹地府陽間列位諸聖賢。
南無諾迦師悟達僧恭啟寶懺二位大菩薩。延奉、
三乘上聖、四府萬靈、總八部之龍天、盡河沙之聖眾。伏願、琅函披閱、演半言而一性了明、懺法宣揚、聞四句而六根清淨、拜身
佛于金蓮座上、參覺地于白玉龕中、但下情不勝翹望之至。具表代。奏以聞。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上奏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上奏
Phiên âm:
Phục dĩ
Sám viên minh tổng sự lý nhi nghiêm từ, chiết tiếp thừa vi diệu, chiếu nhân quả dĩ báo nghiệm phệ quy.1
Bái biểu2 vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh ... Quận ... Xã ... gia cư kiến đàn phụng Phật tu hương phúng kinh ... sự. Kim đệ tử … Duy nhật bái can, ngưỡng lại Phật ân, phủ thùy tiếp độ. Thống niệm:
Phụng vị ... chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ siêu thăng, toàn lại kinh văn nhi giải thoát. Tư giả ... phúng tụng Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp3, tư đương đệ ... quyển dĩ hoàn long, cẩn cụ biểu văn, cung nghệ đài tiền, hòa nam bái bạch:
Nam Mô Đạo Tràng Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật liên tọa chứng minh.
Nam Mô Thượng Trung Hạ Phân Tam Giới Thiên Tào Địa Phủ Dương Gian Liệt Vị Chư Thánh Hiền.
Nam Mô Nặc Ca Sư4 Ngộ Đạt5 Tăng Cung Khải Bảo Sám Nhị Vị Đại Bồ Tát.
Diên phụng: Tam Thừa thượng thánh, Tứ Phủ vạn linh; tổng Bát Bộ6 chi long thiên, tận hà sa chi thánh chúng.
Phục nguyện: Lang hàm7 phi duyệt8, diễn bán ngôn9 nhi nhất tánh liễu minh; sám pháp tuyên dương, văn Tứ Cú10 nhi Lục Căn thanh tịnh. Bái thân Phật vu kim liên tòa thượng, tham Giác Địa11 vu Bạch Ngọc kham trung; đản hạ tình bất thắng kiều vọng chi chí. Cụ biểu đại. Tấu dĩ văn.
Phật lịch … Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng tấu.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
- hối tròn đầy cả sự lý bộc bạch nghiêm minh; nương sự vi diệu chiếu soi nhân quả, để biết sự ứng nghiệm của bói toán.
Tờ biểu dâng tại Thôn ..., Xã ..., Quận ..., Tỉnh ... Nước Việt Nam ... có gia đình lập đàn tràng ... vâng theo lời Phật dạy, dâng hương tụng kinh ... Hôm nay đệ tử chúng con … cúi lạy, ngưỡng mong Phật ơn, xót thương tiếp độ:
Hương linh ...
Cùng nương Phật pháp được siêu thăng, toàn nhờ kinh văn mà giải thoát. Nay chúng con trì tụng Pháp Từ Bi Tam Muội Thủy Sám đến quyển thứ ... đã xong, dâng trọn biểu văn, đến trước đài sen, thành tâm lạy thỉnh:
Kính xin đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, giáo chủ đạo tràng ngồi trên tòa sen chứng giám cho.
Kính xin hết thảy các vị thánh hiền trong ba cõi người, địa phủ và trên trời chứng giám cho.
Kính xin hai vị Bồ Tát Nặc Ca Tôn Giả và Quốc Sư Ngộ Đạt đã khai bày pháp sám hối nầy, chứng giám cho.
Cùng xin: Ba Thừa các Thánh, Bốn Phủ vạn loài, hết thảy Tám Bộ trời rồng, cùng vô số các thánh chúng.
Cúi mong: Đọc kỹ lời ngọc, diễn nửa lời mà một tánh sáng bừng; pháp sám tuyên dương, nghe Bốn Câu mà Sáu Căn trong sạch; lạy thân Phật trên tòa sen báu ấy, lễ giác ngộ trong ngọc trắng khám thờ; mong thấu đạt chí vọng tâm thành kẻ phàm phu. Dâng văn biểu, xin nghe tâu.
Ngày … tháng … năm …
- tử chúng con … kính thành tâu lên.
Phần chú thích:
- Phệ Quy (筮龜) hay Phệ Bốc (筮卜): bói toán bằng thẻ tre (một bó có 50 thẻ) và bằng cách đốt mu rùa. Từ đó nó có nghĩa là bói toán nói chung. Trong Chu Dịch Chánh Nghĩa (周易正義), phần Nhĩ Nhã (爾雅) có giải thích về 10 loại thẻ rùa để bói toán, quyết đoán mọi nghi nan rằng: “Thập bằng chi quy giả, nhất viết Thần Quy, nhị viết Linh Quy, tam viết Nhiếp Quy, tứ viết Bảo Quy, ngũ viết Văn Quy, lục viết Phệ Quy, thất viết Sơn Quy, bát viết Trạch Quy, cửu viết Thủy Quy, thập viết Hỏa Quy (十朋之龜者、一曰神龜、二曰靈龜、三曰攝龜、四曰寶龜、五曰文龜、六曰筮龜、七曰山龜、八曰澤龜、九曰水龜、十曰火龜, mười loại thẻ bói rùa, một là Thần Quy, hai là Linh Quy, ba là Nhiếp Quy, bốn là Bảo Quy, năm là Văn Quy, sáu là Phệ Quy, bảy là Sơn Quy, tám là Trạch Quy, chín là Thủy Quy, mười là Hỏa Quy).”
- Biểu (表): bức văn thư dâng trình lên cho nhà vua hay cơ quan hành chính như Xuất Sư Biểu (出師表) của Gia Cát Lượng (諸葛亮, 181-234), v.v.
- Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp (慈悲三昧水懺法): hay còn gọi là Từ Bi Thủy Sám Pháp (慈悲水懺法, Taishō No. 1910), 3 quyển, do Tri Huyền (知玄, 811-883) nhà Đường trước thuật, là bộ sách chỉ về phương pháp sám hối, hình thành từ bản Viên Giác Kinh Tu Chứng Nghi (圓覺經修證儀) của Tông Mật (宗密, 780-841), được thâu lục vào trong Taishō quyển 45. Dưới thời vua Ý Tông nhà Đường, quốc sư Ngộ Đạt Tri Huyền có mụt nhọt mặt người trên đầu gối, khuôn mặt ấy có đầy đủ lông mày, mắt, miệng, răng; cứ mỗi lần ăn uống thì cũng đút cho ăn, nó hả miệng nhai nuốt chẳng khác chi người thường cả. Tuy Ngộ Đạt có mời danh y đến chữa nhưng vô hiệu. Sau nhờ có tôn giả Ca Nặc Ca (迦諾迦) giúp đỡ, ông thành tâm sám hối và dùng nước Tam Muội rửa mụt nhọt ấy, mụt mới lành. Nhân đó quốc sư bèn viết ra sách nầy để cho người đời sau nương đó mà sám hối. Hình thức của sách nầy cũng giống như các sách sám hối khác, trước hết đối trước chư Phật và Bồ Tát quy y, sau đọc văn sám hối, sám hối đối với hết thảy các phiền não chướng cũng như nghiệp chướng và báo chướng của Bốn Loài, Sáu Đường. Cuối cùng là văn hồi hướng phát nguyện. Nếu chúng sanh nào nương vào phương pháp sám hối nầy mà chí thành sám hối tội lỗi của mình, có thể làm cho tiêu tan những oan nghiệp trong đời trước. Cho nên phương pháp nầy được thịnh hành mãi cho đến ngày nay dưới tên gọi là Thủy Sám. Tại Việt Nam, hình thức nầy cũng được ứng dụng rộng rãi trong Thiền môn cũng như tầng lớp tại gia cư sĩ. Trong Từ Bi Thủy Sám Pháp có giải thích rằng: “Phù Tam Muội Thủy Sám giả, nhân Đường Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền, ngộ Ca Nặc Ca Tôn Giả, dĩ Tam Muội thủy vi trạc tích thế oán cừu, Tri Huyền toại diễn Đại Giác chi chỉ, thuật vi sám văn (夫三昧水懺者、因唐悟達國師知玄、遇迦諾迦尊者、以三昧水爲濯積世怨讎、知玄遂演大覺之旨、述爲懺文, phàm Tam Muội Thủy Sám là nhân vì Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền nhà Đường, gặp Tôn Giả Ca Nặc Ca, lấy nước Tam Muội để rửa sạch các oán thù tích chứa xưa kia; Tri Huyền bèn diễn bày ý chỉ của đấng Đại Giác, thuật lại thành văn sám hối).” Bản chú giải về sám pháp nầy có Từ Bi Đạo Tràng Thủy Sám Pháp Khoa Chú (慈悲道塲水懺法科註, CBETA No. 1496) của Long Trú (龍住).
- Nặc Ca (諾迦): tức Tôn giả Ca Nặc Ca (迦諾迦), vị cao tăng trong mộng đã giúp Quốc Sư Ngộ Đạt (悟達, 811-883) chữa lành bệnh và tạo nhân duyên cho pháp sám hối Thủy Sám ra đời. Trong bài tựa của Từ Bi Đạo Tràng Thủy Sám (慈悲道塲水懺) có câu: “Cái thủ Tam Muội thủy, tẩy oan nghiệp vi nghĩa, mạng danh viết Thủy Sám, thử Ngộ Đạt cảm Ca Nặc Ca chi dị ứng (蓋取三昧水、洗冤業爲義、命名曰水懺、此悟達感迦諾迦之異應, vì vậy lấy nước Tam Muội rửa sạch oan nghiệp làm nghĩa, đặt tên là Thủy Sám, đây là do Ngộ Đạt cảm ứng được điều linh dị nơi Tôn Giả Ca Nặc Ca).”
- Ngộ Đạt (悟達, 811-883): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, xuất thân Hồng Nhã (洪雅), Mi Châu (眉州, nay là Tỉnh Tứ Xuyên), họ Trần (陳), pháp danh Tri Huyền (知玄), tự Hậu Giác (後覺). Hồi nhỏ ông rất thích hình tượng Phật và hình ảnh chư tăng. Đến năm lên 7 tuổi, nhân đến nghe Pháp Thái (法泰) ở Ninh Di Tự (寧夷寺) giảng về Kinh Niết Bàn (涅槃經), đêm đó chợt mộng thấy đức Phật ở chánh điện chùa lấy tay xoa đầu mình. Đến năm 11 tuổi, ông theo xuất gia với Pháp Thái, chuyên nghiên cứu về Kinh Niết Bàn. Hai năm sau, ông vâng mệnh vị Thừa Tướng thăng đường thuyết pháp ở Đại Từ Tự (大慈寺) đất Thục, thính giả đến nghe lên đến cả vạn người, ai cũng mến phục trí tuệ của ông, bèn tôn xưng ông là Trần Bồ Tát. Sau ông theo Luật Sư Biện Trinh (辯貞) thọ Cụ Túc giới, rồi theo Pháp Sư An Quốc Tín (安國信) học về Duy Thức, tự mình nghiên cứu thêm các kinh điển của những tông phái khác. Ông thường hận mình không thể thuyết kinh được bằng tiếng địa phương. Nhân tụng chú Đại Bi, cảm ứng được vị thần tăng thay lưỡi cho ông trong mộng; hôm sau khi thức dậy, tiếng nói thay đổi. Một thời gian lâu sau, ông ngao du lên kinh đô, gặp lúc vua Võ Tông đang mến mộ phép thuật thành tiên của các đạo gia, nhà vua mời ông cùng luận tranh với các đạo sĩ ấy. Ông biện tài lanh lợi, nói thẳng chẳng sợ, nhà vua tuy không thích lời nói của ông nhưng cũng rất vui lòng với kiến thức của ông. Đến thời vua Tuyên Tông, nhà vua mời ông vào cung nội giảng kinh, ban cho Tử Y, phong làm vị Thủ Tòa của Tam Giáo. Vua Ý Tông thường thân lâm đến nghe giảng kinh và ban cho tòa ngồi bằng gỗ trầm hương. Do vì ông sanh tâm hoan hỷ nên sanh ra mụt nhọt có mặt người nơi đầu gối của nhiều đời oan nghiệp chất chồng, sau nhờ tôn giả Ca Nặc Ca (迦諾迦) giúp cho rửa sạch mụt ấy. Về sau ông xin trở về chùa cũ của mình, đến sống tại Đơn Cảnh Sơn (丹景山) thuộc Bành Châu (膨州). Khi vua Hy Tông đến viếng thăm đất Thục, có ban cho ông hiệu Ngộ Đạt Quốc Sư. Khá nhiều tầng lớp sĩ phu cùng giao du với ông, như thi nhân Lý Thương Ẩn (李商隱, 813-858) sau khi về vui thú điền viên, đã cùng sống với ông trong một thời gian lâu nhất. Ông thị tịch vào năm thứ 3 (883) niên hiệu Trung Hòa (中和), hưởng thọ 73 tuổi đời và 54 hạ lạp. Trước tác của ông có Từ Bi Thủy Sám Pháp (慈悲水懺法) 3 quyển, Thắng Man Kinh Sớ (勝鬘經疏) 4 quyển, Bát Nhã Tâm Kinh Sớ (般若心經疏), Kim Cang Kinh Sớ (金剛經疏), v.v. Trong bài cung văn đầu Kinh Thủy Sám có đoạn: “Quốc Sư Ngộ Đạt, quyên trừ lụy thế chi khiên vưu, sự khải nhất thời, pháp lưu thiên cổ, soạn vi Thượng Trung Hạ tam quyển chi nghi văn, nhân thiên kính ngưỡng, sám ma thân khẩu ý Thập Ác chi tội nghiệp, phàm thánh quy sùng (國師悟達、蠲除累世之愆尤、事啟一時、法流千古、撰爲上中下三卷之儀文、人天敬仰、懺摩身口意十惡之罪業、凡聖皈崇, Quốc Sư Ngộ Đạt trừ sạch các oan khiên của nhiều đời, việc mở ra một lúc, pháp lưu lại muôn thưở, soạn thành văn nghi thức ba quyển Thượng Trung Hạ, người trời đều kính ngưỡng; sám hối tội nghiệp Mười Điều Ác của thân, miệng, ý, phàm thánh thảy quy sùng).” Trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀) quyển 51, phần Tăng Chức Sư Hiệu (僧職師號) có câu: “Hiến Tông tứ Sa Môn Tri Huyền Ngộ Đạt Quốc Sư (憲宗賜沙門知玄悟達國師, vua Hiến Tông [tại vị 805-820] nhà Đường ban tặng cho Sa Môn Tri Huyền là Ngộ Đạt Quốc Sư).” Hay như trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) quyển 3, Truyện Đường Kinh Sư Mãn Nguyệt (唐京師滿月傳) cũng có câu: “Thời Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền, hiếu học Thanh Minh, lễ Nguyệt vi sư (時悟達國師知玄、好學聲明、禮月爲師, lúc bấy giờ Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền thích học về Thanh Minh, bèn bái Mãn Nguyệt làm thầy).”
- Bát Bộ (八部): tám bộ chúng trời rồng bảo vệ Phật pháp, còn gọi là Thiên Long Bát Bộ (天龍八部), gồm Trời (s: deva, 天), Rồng (s: nāga, 龍), Dạ Xoa (s: yakṣa, 夜叉), Càn Thác Bà (s: gandharva, 乾闥婆, Hương Thần [香神] hay Nhạc Thần [樂神]), A Tu La (s: asura, 阿修羅), Ca Lâu La (s: garuḍa, 迦樓羅, Kim Xí Điểu [金翅鳥]), Khẩn Na La (s: kiṃnara, 緊那羅, phi nhân, ca nhân), Ma Hầu La Già (s: mahoraga, 摩睺羅伽, Đại Mãng Thần [大蟒神]). Tám bộ chúng nầy tuy khác nhau về chủng loại nhưng đều quy phục uy đức của Phật và trở thành quyến thuộc của ngài để hộ trì Phật pháp. Từ xa xưa, tại Trung Quốc cũng như Nhật Bản đã có tạo lập tranh tượng của tám bộ chúng nầy rồi.
- Lang hàm (琅函): có mấy nghĩa khác nhau: (1) Hòm thư, như trong bài Lý Thị Tiểu Trì Thập Nhị Vận (李氏小池亭十二韻) của Vi Trang (韋莊, 836-910) nhà Đường có câu: “Gia tàng hà sở bảo, thanh vận mãn lang hàm (家藏何所寶、清韻滿琅函, nhà cất của đâu thấy, trí tuệ đầy hòm thư).” (2) Loại thư tín để tôn xưng, tán dương người khác hay đấng linh thiêng nào đó (nghĩa trong bài), còn viết là lang hàm (瑯函). Như trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 7 có câu: “Phổ lễ lang hàm biến pháp giới, hà sa tội chướng tất tiêu trừ, thế thế thường hành Bồ Tát đạo (普禮琅函遍法界、河沙罪障悉消除、世世常行菩薩道, lạy khắp kinh sách cùng pháp giới, hà sa tội chướng thảy tiêu trừ, đời đời thường hành Bồ Tát đạo).” Hay như trong bài Tùy Châu Đại Hồng Sơn Toại Thiền Sư Lễ Hoa Nghiêm Kinh Văn (隨州大洪山遂禪師禮華嚴經文) của Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, CBETA No. 1474) có đoạn: “Nam Mô Tỳ Lô Giáo Chủ, Hoa Tạng Từ Tôn, diễn bảo kệ chi kinh văn, bố lang hàm chi ngọc trục, trần trần hỗn nhập, sát sát viên dung (南無毗盧敎主、華藏慈尊、演寶偈之經文、布琅函之玉軸、塵塵混入、剎剎圓融, kính lễ Tỳ Lô Giáo Chủ, Hoa Tạng Từ Tôn, diễn kệ báu ấy kinh văn, bày hòm thư muôn sách ngọc, nơi nơi biến nhập, chốn chốn tròn đầy).”
- Phi duyệt (披閱): đọc kỹ, cùng nghĩa với phi kiến (披見), phi độc (披讀), phi lãm (披覽).
- Bán ngôn (半言): nửa lời, còn gọi là bán kệ (半偈, nửa bài kệ). Theo Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經) quyển 14, Phẩm Thánh Hạnh (聖行品), xưa kia khi Như Lai chưa xuất hiện trên đời, lúc bấy giờ đức Phật Thích Ca thị hiện là một người ngoại đạo Bà La Môn, tinh thông hết thảy các học vấn, hành vi rất nhu hòa, tịch tĩnh, tâm thanh tịnh, vô nhiễm. Vị ấy có chí nguyện muốn tìm học kinh điển Đại Thừa; nhưng trãi qua một thời gian lâu mà không có kết quả. Sau ông vào trong núi Tuyết Sơn tu khổ hạnh, hành Thiền định và chờ đợi đấng Như Lai xuất hiện để được nghe giáo pháp Đại Thừa. Thấy vậy, Trời Đế Thích bèn biến hóa thành một con quỷ La Sát rất hung dữ, đáng sợ, bay đến gần chỗ vị tiên nhân, rồi lớn tiếng tuyên thuyết nửa bài kệ tụng do trước kia đã từng nghe từ đức Như Lai rằng: “Chư hành vô thường, hữu sinh hữu diệt (諸行無常、有生有滅, các hành vô thường, có sinh có diệt)”, và đến bên tiên nhân đảo mắt hung tợn nhìn khắp bốn phương. Nghe xong nửa bài kệ nầy, tiên nhân cảm thấy như có được thuốc hay để trị lành căn bệnh lâu ngày, như rơi xuống nước mà được thuyền cứu vớt, như đất hạn hán lâu ngày gặp nước mưa, như thân hình bị giam hãm lâu ngày nay được phóng thích; nên thân tâm rất hoan hỷ. Tiên nhân đứng dậy nhìn quanh, chỉ thấy con quỷ La Sát thân hình hung tợn, nên rất hồ nghi không biết ai đã tuyên thuyết câu kệ vi diệu như vậy; cuối cùng mới biết do con quỷ La Sát thuyết. Vị tiên nhân chí thành cầu xin con quỷ nói tiếp nửa bài kệ sau; sau nhiều lần thử thách, con quỷ vẫn không bằng lòng; cho nên vị tiên nhân phát nguyện hiến cả thân mạng cho con quỷ đói, chỉ với mục đích là nghe được chánh pháp mà thôi. Nhân đó, quỷ La Sát thuyết nửa câu kệ sau: “Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc (生滅滅已、寂滅爲樂, Sinh diệt diệt hết, vắng lặng an vui)”. Nghe xong, vị Bà La Môn biết câu kệ nầy rất có lợi ích cho mọi người, liền khắc lên khắp nơi như vách đá, thân cây, v.v., để lưu truyền cho hậu thế. Sau đó, ông leo lên cây cao, buông mình xuống để xả thân cho con quỷ đói ăn, theo như lời phát nguyện. Lúc bấy giờ, trên không trung văng vẳng âm thanh vi diệu, các vua trời cùng Trời Đế Thích hiện nguyên thân hình đón lấy thân thể vị Bà La Môn, cung kính đãnh lễ và cầu xin hóa độ cho họ trong tương lai. Nhờ nhân duyên xả thân mạng để nghe được nữa câu kệ như vậy, sau 12 kiếp tu hành, vị Bà La Môn thành Phật trước cả Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, 彌勒). Hơn nữa, trong Bách Nghiệp Kinh (百業經), có đề cập đến câu chuyện tiền thân của đức Phật là Tích Phổ Quốc Vương (昔普國王) cũng tương tự như vậy; song nội dung chuyện và văn kệ có phần khác. Đức vua là người có tâm từ bi lớn, chuyên bố thí khắp mọi người, thương yêu thần dân hết mực. Trời Đế Thích thấy vậy muốn thử tâm của nhà vua, bèn biến thành con quỷ La Sát, đến trước vua tuyên thuyết nửa câu kệ rằng: “Chư pháp giai vô thường, nhất thiết sinh diệt tánh (諸法皆無常、一切生滅性, các pháp đều vô thường, tất cả có tánh sinh diệt)”. Nghe xong nửa câu pháp nầy, đức vua sanh tâm hoan hỷ, liền cung kính đãnh lễ La Sát và cầu xin cho nghe nửa câu kệ sau với lời phát nguyện sẽ dâng hiến thịt máu của vua cho con quỷ. Trước lời thỉnh cầu chí thành của nhà vua, quỷ La Sát nói tiếp nửa câu kệ sau là: “Sinh diệt tức diệt tận, bỉ đẳng tịch diệt lạc (生滅卽滅盡、彼等寂滅樂, Sinh diệt đã diệt hết, ấy niềm vui vắng lặng)”. Sau khi nghe được cả bài kệ, đức vua lấy toàn bộ thịt máu của mình dâng cho quỷ La Sát. Lúc bấy giờ, đại địa chấn động, trời người rãi hoa cúng dường và tán thán đại nguyện của Tích Phổ Quốc Vương. Sau nầy, Huyền Trang (玄奘, 602-664) có làm bài “Đề Bán Kệ Xả ThânSơn (題半偈捨身山)” rằng: “Hốt văn bát tự siêu thi cảnh, bất tích đơn xu xả thử sơn, kệ cú thiên lưu phương thạch thượng, nhạc âm thời tấu bán không gian (忽聞八字超詩境、不惜丹軀捨此山、偈句篇留方石上、樂音時奏半空間, chợt nghe tám chữ siêu thi hứng, chẳng tiếc thân mình bỏ núi non, câu kệ còn lưu trên vách đá, nhạc âm vang vọng nửa không gian).” Ngoài ra, Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺, 675-713), tác giả của bài Chứng Đạo Ca (証道歌), cũng có Bán Cú Kệ rằng: “Sanh dã điên đảo, tử dã điên đảo (生也顚倒、死也顚倒, sống cũng điên đảo, chết cũng điên đảo)”. Như trong văn sớ trên, câu “diễn bán ngôn nhi nhất tánh liễU Minh (演半言而一性了明)” có nghĩa rằng chỉ cần diễn thuyết nửa lời (nửa câu, nửa bài kệ) thôi thì một tánh cũng đủ sáng ngộ. Đây muốn nói đến tầm quan trọng của kinh điển Phật Giáo nói chung cũng như Kinh Thủy Sám nói riêng. Nếu trì tụng, bái sám với tất cả lòng chí thành, sống với từng lời từng chữ của kinh điển thì nửa câu kệ cũng đủ làm cho hành giả chuyển hóa, liễu ngộ.
- Tứ Cú (四句): bốn câu. Nguyên tắc hình thành 4 câu nầy không quan hệ đến số lượng chữ để hình thành nên các bài kệ, bao hàm yếu nghĩa, triết lý của kinh luận; cho nên kinh dạy rằng nếu dùng 4 câu nầy để giáo hóa mọi người, hay tự mình thọ trì thì sẽ có công đức lớn. Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh (大乘本生心地觀經) quyển 2 có dạy rằng: “Khuyên các chúng sanh, cùng phát tâm nầy, nên lấy pháp chơn thật, một kệ bốn câu, ban cho một chúng sanh, khiến cho hướng đến vô thượng chánh đẳng Bồ Đề; đó là chơn thật Ba La Mật Đa.” Từ Tứ Cú nầy có một số thuật ngữ liên quan như Tứ Cú Kệ (四句偈), Tứ Cú Thành Đạo (四句成道), Tứ Cú Niệm Phật (四句念佛), Tứ Cú Suy Kiểm (四句推檢), Tứ Cú Bách Phi (四句百非), v.v. Như bài Tứ Cú Kệ do quỷ La Sát thuyết cho đức Phật khi còn là tiên nhân tu trong núi Tuyết Sơn là: “Chư hành vô thường, hữu sinh hữu diệt, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc (諸行無常、有生有滅、生滅滅已、寂滅爲樂, các hành vô thường, có sinh có diệt, sinh diệt diệt hết, vắng lặng an vui”. Hay như trong Kim Cang Kinh (s: Vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra, 金剛經) có Tứ Cú Kệ về 4 quả vị là “Ngộ đắc sơ cú, y nghĩa tu hành, tiện chứng Dự Lưu, Tu Đà Hoàn quả (悟得初句、依義修行、便證預流、須陀洹果, ngộ được câu đầu, theo nghĩa tu hành, bèn chứng Dự Lưu, Tu Đà Hoàn quả)”; “Ngộ nhị cú ý, y nghĩa tu hành, tiện chứng Nhất Lai, Tư Đà Hàm quả (悟二句意、依義修行、便證一來、斯陀含果, câu hai ý ngộ, theo nghĩa tu hành, bèn chứng Nhất Lai, Tư Đà Hàm quả)”; “ Ngộ tam cú ý, y nghĩa tu hành, tiện chứng Bất Lai, A Na Hàm quả (悟三句意、依義修行、便證不來、阿那含果, câu ba ý ngộ, theo nghĩa tu hành, bèn chứng Bất Lai, A Na Hàm quả)”; “Ngộ tứ cú ý, y nghĩa tu hành, sử chứng Vô Sanh, A La Hán quả (悟四句意、依義修行、使證無生、阿羅漢果, ngộ ý câu bốn, theo nghĩa tu hành, khiến chứng Vô Sanh, A La Hán quả)”. Tứ Cú Thành Đạo là bài kệ gồm 4 câu do vị A La Hán tụng lên khi thành đạo: “Chư lậu dĩ tận, phạm hạnh dĩ lập, sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu (諸漏已盡、梵行已立、所作已辨、不受後有, các lậu đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng chịu thân sau)”. Hay Tứ Cú Niệm Phật là “Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát, Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (南無阿彌陀佛、南無觀世音菩薩、南無大勢至菩薩、南無清淨大海衆菩薩)”. Câu “Khai Tứ Cú nhi Lục Căn thanh tịnh (開四句而六根清淨)” có nghĩa là khi hiểu được áo nghĩa của 4 câu thì Sáu Căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) được trong sạch, tiêu trừ mọi tội lỗi của bao đời và giác ngộ. Sau nầy, dưới triều nhà Minh có triết học gia Vương Thủ Nhân (王守仁, 1472-1529) chủ trương Tứ Cú Giáo (四句敎, lời dạy bốn câu) là: “Vô thiện vô ác chi tâm thể, hữu thiện hữu ác ý chi động, tri thiện tri ác thị lương tri, vi thiện khử ác thị cách vật (無善無噁之心體、有善有惡意之動、知善知惡是良知、爲善去惡是格物, không thiện không ác ấy tâm thể, có thiện có ác là ý động, biết thiện biết ác là lương tri, làm thiện bỏ ác là cách vật [đạt đến tận cùng lý của vạn vật])”. Tất nhiên, cũng có khá nhiều luận nghị về Tứ Cú Giáo nầy; nhưng xét cho cùng thì câu đầu tiên có ảnh hưởng sâu sắc tinh thần Phật Giáo.
- Giác Địa (覺地): cảnh giới, cảnh địa của sự giác ngộ; cho nên người chứng đạt cảnh giới giác ngộ được gọi là Giác Địa. Vì vậy, đây cũng là tên gọi của chư Phật. Câu “Tham Giác Địa vu Bạch Ngọc kham trung (參覺地于白玉龕中)” có nghĩa là tham bái hình tượng đấng đã đạt đến cảnh giới giác ngộ trong khám thờ bằng Bạch Ngọc.